Liên kết
 
 
 
 
Đăng nhập
 
Tài khoản :
Mật khẩu :
 
 
 
Thôìng kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

10 NĂM TÌM TÒI, KHẢO NGHIỆM ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI (1976 -1986) – HÀNH TRÌNH PHÁT TRIỂN TƯ DUY TỰ THÂN CỦA ĐẢNG TA

Tác giả : Th.s Ngô Bá Cường - P.Trưởng Khoa Xây dựng Đảng
File đính kèm: Không có

Có thể nói, chặng đường 24 năm đổi mới vừa qua với những thành tựu rực rỡ về nhiều mặt đã chứng minh một cách chắc chắn về tính đúng đắn trong đường lối chiến lược của Đảng cộng sản Việt Nam vào thời điểm khó khăn nhất. Trong một thực tế hết sức nghiệt ngã đó là sự sụp đổ không thể cứu vãn của hệ thống XHCN khu vực Đông Âu và Liên Xô. Thách thức này buộc Đảng cộng sản Việt Nam lập tức phải có những quyết định của chính mình.
Trong một tương quan chung ta thấy, Việt Nam và trước đó là Trung Quốc đã có một sự giải thoát ngoạn mục bằng khả năng tự giác điều chỉnh hệ thống chính sách vĩ mô thông qua “Cải cách; đổi mới ”. Nghiên cứu thực tế giai đoạn 1976 – 1986 ở khu vực các nước XHCN có thể tìm thấy một số vấn đề thú vị:
Thứ nhất, dường như không ai bảo ai, các Đảng cộng sản cầm quyền lúc đó đều cố gắng cho những thay đổi theo hướng tích cực hơn sự vận hành của thể chế XHCN. Ở khu vực Châu Á, sớm và rõ nhất chính là công cuộc cải cách của Trung Quốc.
Thứ hai, động lực thúc đẩy cải cách  (ở Việt Nam gọi là Đổi mới ) xuất phát từ yêu cầu cấp bách của sự nghiệp xây dựng CNXH trong không gian quốc gia dân tộc. Lúc này, người ta không có nhiều thời gian để nói đến THẮNG – THUA, trong khi vấn đề ĐÚNG – SAI; ĐÓI - NO đang đặt ra trực tiếp.
Thứ ba, đã có sự so sánh khách quan giữa mô hình Liên Xô với những thành công thực sự hấp dẫn của nhiều nước khu vực Đông Á, Đông Nam Á. Điều này có thể đã trở thành một thúc đẩy mạnh mẽ hơn đối với các nước XHCN ở khu vực này trên con đường quyết tâm đổi mới.
Trong trường hợp của Việt Nam, chỉ 11 năm sau chiến tranh, Đảng cộng sản với vai trò lãnh đạo đất nước đã quyết định từ bỏ dứt khoát nhiều điểm chính của mô hình kế hoạch hoá từ trung ương theo kiểu Liên Xô. Đây là kết quả sự phân tích nghiêm túc mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị. Theo những nghiên cứu khách quan, một số chuyên gia phân tích đã nhận định: “Cải cách là những tác động qua lại phức tạp giữa kinh tế và chính trị, trong đó cải cách kinh tế thành công một phần cũng có thể tạo được không gian cho cải cách chính trị ” (Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông Dương, Borje Ljunggen, H. Chính trị quốc gia, Hn 1994, tr 100). Họ cho rằng, trong thực tiễn, mọi nước đều sẽ đứng trước nhiều lựa chọn liên quan đến con đường cải cách của mình. Trong trường hợp của Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Thực tế thì các nhà hoạch định chiến lược của Đảng trong quá trình tạo ra các bước chuyển đều xuất phát từ việc phân tích những tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị. Trong số các tiền đề của Đổi mới ở Việt Nam, các nhà lãnh đạo đã dựa trên những biến chuyển có tính quy luật dưới đây:
Một là, hiện đại hoá đã được xác định như một biện pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thay vì quan điểm thông qua nó (HĐH) việc xây dựng một hệ thống sản xuất XHCN quy mô lớn là con đường chủ yếu dẫn đến phát triển.
Hai là, động lực thúc đẩy tính tích cực của người sản xuất chính là lợi ích cụ thể, thiết thực từ những không gian kinh tế riêng (ví dụ ruộng 5% trong nông nghiệp). Những chuyển biến này thể hiện rõ nhất từ năm 1979, khi nhà nước bắt đầu chú ý đến việc cải cách trong khuôn khổ của một hệ thống có giới  hạn (Hội nghị TW 6, khoá IV, 8/1979 dẫn đến Chỉ thị 100 của Ban Bí thư ngày 13/1/1981về nông nghiệp; các Quyết định của Chính Phủ như Quyết định 25 /CP ngày 21/1/1981về công nghiệp...)làm động lực cho những bước đi mạnh dạn hơn, tiến tới tư tưởng xoá bỏ rào cản kế hoạch hoá, thực hiện tự do hoá giá cả, xây dựng mô hình kinh tế hướng ngoại dựa trên các quy luật thị trường.
Ba là, môi trường quốc tế khá căng thẳng và thù địch ( quan hệ xấu đi với Trung Quốc cũng như sự chống phá quyết liệt của thế lực Khơ Me Đỏ ở Campuchia) cộng với nguồn viện trợ liên tục bị cắt giảm khiến cho nhiều mục tiêu đặt ra đã không thể thực hiện. Điều này thực sự đã làm cho những nhà lãnh đạo có trách nhiệm đi đến quyết định chấp nhận đổi mới toàn diện.
Bốn là, những bước đột phá đi đến đổi mới chủ yếu là do những động lực bên trong thúc đẩy. Động lực bên trong và những sự thích nghi từ dưới lên thông qua “ khoán chui; phá rào” …đã đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành các cải cách nhằm phá vỡ tình trạng bế tắc do năng suất lao động thấp.
Năm là, những thành công của một loạt nước ở khu vực Đông Á về xu hướng cải cách theo đường lối kinh tế thị trường như Trung Quốc; Nam Triều Tiên và Thái Lan… đang thực sự thu hút sự quan tâm kể cả các nhà lãnh đạo cho đến giới khoa học. Trong điều kiện sự tê liệt của Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) cũng như khối COMECON đang trên đà tan rã thì những tín hiệu lạc quan từ quan hệ thương mại và tài chính với phương Tây đã trở thành vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong những nỗ lực tiến hành đổi mới của Việt Nam (lúc này IMF và WB đã có những cam kết  sẵn sàng hỗ trợ theo hướng ưu đãi cho cả Việt Nam và Campuchia; Lào trước đó đã nhận được những hỗ trợ rất đáng kể).
Sáu là, sự ổn định về chính trị - xã hội là điều được toàn dân quan tâm và ủng hộ. Hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng đã thể hiện được tính ưu việt của nó khi nó chứng minh rằng chỉ có như vậy thì những điều chỉnh vĩ mô về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội mới nhanh chóng được thực hiện.
Bảy là, lịch sử chống chủ nghĩa thực dân trên bán đảo Đông Dương luôn nhắc nhở các nhà lãnh đạo 3 nước này hình thành mối quan hệ có tính trách nhiệm, chia sẻ, giúp đỡ thay vì thù địch như trước đây. Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế hình thành khu vực hợp tác vùng với những liên kết đa phương của ASEAN. Việt Nam đã từng bước gắn quá trình đổi mới với những tháo gỡ cụ thể các nút thắt chính trị trong các quan hệ song phương để dọn đường cho quá trình hội nhập khu vực sau này.
Sự vận động tự thân trên con đường tìm kiếm đổi mới được chứng minh cụ thể bằng nhiều quyết sách táo bạo mà trong đó đáng chú ý nhất là ba bước đột phá sau đây:
Thứ nhất, Hội nghị trung ương 6 khoá IV (8/1979) với quyết tâm làm cho sản xuất “bung ra”...mặc dù là bước đi ban đầu, còn sơ khai, chưa toàn diện nhưng là ý tưởng mở đầu  có ý nghĩa rất quan trọng. Tư tưởng nổi bật trong những tìm tòi đó là quan điểm giải phóng lực lượng sản xuất (sau này là tư duy coi trọng phát triển lực lượng sản xuất thay cho lối tư duy chỉ coi trọng lực lượng sản xuất). Tác dụng thực tiễn của bước đột phá này là chỉ rõ cách nghĩ, cách làm không đúng của chúng ta trong một thời gian dài, đó là chỉ coi trọng về chế độ mà chưa coi trọng đúng mức hệ thống giá trị. Nặng về động viên chính trị hơn là tính toán hiệu quả kinh tế.
Thứ hai, Hội nghị Trung ương 8 khoá V (6/1985) với chủ trương dứt khoát xoá bỏ cơ chế cũ; thừa nhận sản xuất hàng hoá và những quy luật của sản xuất hàng hoá. Đây chính là bước chuyển biến có tính bản lề, quyết định nội dung, bước đi và thái độ đổi mới.
Thứ ba, Kết luận của Bộ Chính trị vào tháng 8/1986 đối với một số vấn đề thuộc về quan điểm kinh tế trong quá trình chuẩn bị Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội VI. Đây là bước đột phá có ý nghĩa lớn trong đổi mới tư duy lý luận về CNXH và xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Sự nghiệp đổi mới đã trải qua hơn hai thập niên, chừng đó thời gian và với những giá trị mà nó tạo ra đủ sức để chứng minh cho bản chất khoa học và đặc tính cách mạng của Đường lối lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Ý tưởng nhỏ bé của tác giả khi viết bài này là thông qua những chất liệu thực tiễn, đặt quá trình vận động này trong một không gian đa chiều hơn, kết hợp nhiều góc độ tham chiếu để làm sáng tỏ một thực tế, đó là quá trình đổi mới tự giác từ bên trong của Đảng Cộng sản Việt Nam.  Bài học về vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận trên cơ sở tổng kết nghiêm túc, khách quan và thường xuyên cần được tiếp tục quán triệt và bổ sung phát triển trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta.

Tài liệu tham khảo:
- Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông Dương. Borje Ljunggen (chủ biên). Nxb Chính trị quốc gia, Hn. 1994
- Báo cáo tổng kết Một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới. Ban chỉ đạo tổng kết lý luận, BCHTW Đảng cộng sản Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia, Hn 2005
- Tạp chí cộng sản. Số 808 (2010)
- Tạp chí Lịch sử Đảng. Số tháng 3/2010.

Các bài viết khác:
 
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Thư viện trường
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn