Liên kết
 
 
 
 
Đăng nhập
 
Tài khoản :
Mật khẩu :
 
 
 
Thôìng kê
 
 
 
 
Hội thảo khoa học

THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN - MỘT NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG GIẢNG DẠY BỘ MÔN XÂY DỰNG ĐẢNG HIỆN NAY

Tác giả : Nguyễn Thị Khoa - GV Khoa X ây Dựng Đảng
File đính kèm: Không có

Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và là phương châm căn bản định hướng cho công tác lý luận. Thiết nghĩ: khỏi phải nói thêm về tầm quan trọng của nguyên tắc này. Vấn đề là hiểu và vận dụng như thế nào vào trong quá trình giảng dạy lý luận nói chung và môn xây dựng Đảng nói riêng ở Trường chính trị Nghệ An hiện nay.
   Như chúng ta đã biết, lý luận về xây dựng Đảng là một khoa học và là môn học có vị trí quan trọng trong chương trình Trung cấp chính trị - Hành chính và đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay. Nó có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn mà công tác xây dựng Đảng đã, đang đặt ra. Lý luận đúng là cơ sở để tiến hành công tác xây dựng Đảng có hiệu quả, làm cho Đảng ta có đủ bản lĩnh, năng lực trí tuệ và sức chiến đấu ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Đây là sức mạnh và là yếu tố quan trọng quyết định mọi thành công của sự nghiệp cách mạng. Thực tiễn công tác xây dựng Đảng hiện nay đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ cần được nghiên cứu, tổng kết.
             Ở nước ta, sau cuộc khủng hoảng của phong trào cộng sản và công nhân thế giới do sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu và Liên xô cũ; Nhất là sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới và đặc biệt là trong cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, công tác xây dựng Đảng đã đem lại cho chúng ta những nhận thức mới về vai trò lãnh đạo của Đảng, về vận dụng các nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới, về tổ chức các phong trào quần chúng..v.v .. Vì vậy, chúng ta phải luôn nghiên cứu tổng kết mà trước hết là làm rõ sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình giảng dạy bộ môn xây dựng Đảng ở chương trình Trung cấp chính trị - Hành chính và đối với công tác xây dựng Đảng của Đảng ta hiện nay.
  Vậy xuất phát từ đâu mà trong quá trình giảng dạy bộ môn xây dựng Đảng chúng ta phải bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ?
  Thứ nhất: Bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vừa là yêu cầu, vừa là nguyên tắc, là phương châm của công tác tư tưởng nói chung, của công tác giảng dạy lý luận chính trị nói riêng.
   Thứ hai: Những tri thức về xây dựng Đảng xét cho cùng là được rút ra từ thực tiễn và được vận dụng trở lại thực tiễn. Vì vậy, trong quá trình dạy và học nếu những tri thức bị tách rời khỏi thực tiễn hoặc không gắn với thực tiễn thì không có tác dụng để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Mặt khác, nếu hoạt động thực tiễn không được chỉ đạo bằng tri thức, bằng lý luận sẽ sa vào tình trạng mò mẫm có tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa.
 Thứ ba: Bản thân bộ môn xây dựng Đảng vừa là lý luận, vừa là thực tiễn vì vậy cho phép người học trong khi học có thể vận dụng ngay vào thực tiễn công tác xây dựng Đảng ở trường cũng như ở địa phương.
  Vậy chúng ta thực hiện việc giảng dạy nguyên tắc này như thế nào cho có hiệu quả ? Đây là một việc làm hết sức khó khăn đồng thời là trách nhiệm của toàn Đảng, trong đó có đội ngũ giảng viên khoa Xây dựng Đảng.
   Theo tôi, trước hết cần làm rõ cơ sở khoa học của những nguyên lý lý luận về xây dựng Đảng, lấy thực tiễn để chứng minh làm sáng tỏ lý luận, giúp người học hiểu thấu đáo các nguyên lý đó. Chẳng hạn, khi giảng bài “Công tác cán bộ của tổ chức cơ sở đảng và nghiệp vụ công tác cán bộ”- Trong phần: Quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khi phân tích quan điểm: “Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc TTDC...”, chúng ta cần liên hệ việc thực hiện quan điểm này ! Công tác quản lý cán bộ những năm qua ở nhiều nơi được đánh giá là có tiến bộ, sâu sát hơn, xây dựng, ban hành, thực hiện có nền nếp hàng loạt quy định, quy chế, quy trình về nhận xét, đánh giá, quản lý cán bộ .v.v. Những cố gắng và tiến bộ ấy là có thật nhưng thực chất và mức độ thế nào, vấn đề tồn tại đến đâu cũng cần có sự nhìn nhận cho đúng. Tại sao có số cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý đã phạm sai lầm một thời gian khá dài mà cấp ủy và cơ quan tham mưu về cán bộ không hay biết, vẫn đánh giá cao, đề bạt hoặc giới thiệu ra ứng cử vào chức vụ lãnh đạo, quản lý, đến khi báo chí phanh phui thì các cơ quan chức năng mới bị động đi kiểm tra, thanh tra? Trong rất nhiều vụ án kinh tế từ trước tới nay, từ vụ TAMEXCO; Minh Phụng EPCO, đến Năm Cam, Lã Thị Kim Oanh, rồi vụ PMU 18.v.v... buộc chúng ta phải suy nghĩ nhìn nhận lại công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, công tác quản lý cán bộ, đảng viên nói riêng.
    Ví dụ: 1050 đảng viên của ngành Ngân hàng đóng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh với 7 đảng bộ, 53 tổ chức cơ sở đảng thuộc quyền quản lý của Đảng ủy khối Ngân hàng trực thuộc Thành ủy nhưng với bộ máy đảng ủy khối chỉ có 4 người làm chuyên trách nên chỉ riêng làm việc đảng vụ cũng không xuể chứ đừng nói đến quản lý, kiểm tra. Vì thế, nhiều cán bộ lãnh đạo hàng ngày làm việc gì? Sinh hoạt ra sao? Đi đâu?...cả cấp dưới và cấp trên đều không nắm được. Chẳng hạn, Phạm Nhật Hồng (vụ TAMEXCO) đã tự ý đi nước ngoài nhiều lần mà cơ quan quản lý không biết. Hoặc Phùng Long Thất (vụ Tân Trường Sanh) Nguyễn Nhật Hồng, Nguyễn Ngọc Bích (vụ Minh Phụng EPCO) đều thuộc diện cấp trên quản lý nhưng hàng năm Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh không có thông tin, không có nhận xét, đánh giá của chi bộ đảng và của đảng bộ cơ sở đối với cán bộ.
            Tình trạng này có nhiều nguyên nhân, song có nguyên nhân quan trọng là việc quản lý cán bộ, đảng viên ở nơi công tác lỏng lẻo, nhất là đối với đảng viên là cán bộ lãnh đạo. Có những cán bộ lãnh đạo thường xuyên không sinh hoạt chi bộ với lý do bận mà không bị nhắc nhở, hoặc có họp thì chỉ phán mấy câu rồi xin rút. Có cán bộ còn quên cả đóng đảng phí, thậm chí không làm kiểm điểm cuối năm. Một khi đã quên như thế thì cũng dễ quên mình là đảng viên, cán bộ, phải chịu sự quản lý của chi bộ. Trong khi chi bộ và tổ chức cơ sở đảng nơi cán bộ công tác nể nang, e dè, không dám đấu tranh, thì cấp ủy đảng cấp trên lại buông lỏng việc quản lý, không nắm chắc được cán bộ thuộc quyền quản lý của mình. Thậm chí có cán bộ tự ý ra nước ngoài mà cấp trên không hay biết (trường hợp nêu trên). Vì vậy, để quản lý tốt cán bộ, đảng viên cần phải có sự phân cấp rõ ràng, cụ thể và phối hợp giữa các cấp ủy, nhất là cấp ủy đảng cấp trên với cấp ủy ở cơ sở, nơi cán bộ, đảng viên công tác, sinh hoạt. Nên chăng, cấp ủy đảng cấp trên quản lý toàn diện cán bộ, nhưng chủ yếu tập trung vào công tác chuyên môn, còn TCCSĐ - nơi cán bộ, đảng viên công tác, sinh hoạt quản lý chặt chẽ theo nhiệm vụ của đảng viên, đặc biệt về mặt phẩm chất chính trị,đạo đức, tác phong, lối sống; đối với tổ chức cơ sở đảng nơi cư trú thì quản lý về mặt chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước của cán bộ, đảng viên và gia đình của họ tại nơi cư trú. Vì vậy, cần phải phân công, phân cấp quản lý cán bộ cho các cấp ủy, tổ chức đảng. Đồng thời phải thường xuyên kiểm tra việc thực hiện công tác cán bộ của các cấp, các ngành, coi đây là một trong những công việc quan trọng bậc nhất của lãnh đạo.
          Trong phần: Xây dựng quy hoạch cán bộ cơ sở, khi phân tích ý: “Quán triệt cơ cấu cán bộ trong quy hoạch cán bộ, cơ cấu đó bao gồm: độ tuổi, giai cấp, dân tộc, giới tính phải hợp lý ”. Chúng ta có thể lấy thực tế của Tỉnh Nghệ An (nhất là vấn đề cơ cấu về giới tính) để làm rõ vấn đề này.
          Ngày 13 tháng 4 năm 2005, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An ban hành Chỉ thị số 31-CT/TU về tăng cường lãnh đạo công tác cán bộ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Chỉ thị số 31-CT/TU). Sau 3 năm thực hiện, Chỉ thị số 31-CT/TU đã thực sự thúc đẩy hiệu quả của công tác cán bộ nữ tại Nghệ An. Nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở về công tác cán bộ nữ đã có sự chuyển biến tích cực: chỉ đạo, lãnh đạo để phụ nữ được tham gia nhiều hơn vào các chương trình phát triển kinh tế-xã hội; phát huy vai trò, vị trí của tổ chức Hội, phát hiện nguồn cán bộ nữ để đưa vào nguồn quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng. Tỉnh uỷ, Ủy ban nhân dân (UBND) Tỉnh đã cụ thể hoá các chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh theo hướng bảo đảm sự tham gia của phụ nữ trên các lĩnh vực. Qua kết quả quy hoạch nguồn cán bộ giai đoạn 2005-2010 và những năm tiếp theo cho thấy số lượng cán bộ đưa vào quy hoạch, tỷ lệ cán bộ nữ ở cả khối huyện và khối ban, ngành, đoàn thể đều tăng đáng kể so với cuối nhiệm kỳ trước. Khối huyện, thành, thị tỷ lệ nữ trong quy hoạch chiếm 18% (tăng 4,4% so với năm 2005); khối ban, ngành tỷ lệ nữ trong quy hoạch chiếm 15,1% (tăng 4,5% so với năm 2005) và tỷ lệ nữ trong quy hoạch cán bộ cấp tỉnh là 16% (tăng 5% so với năm 2005). Riêng trong số cán bộ trẻ có triển vọng đã được các đơn vị giới thiệu vào quy hoạch A1 tỷ lệ cán bộ nữ chiếm 51%. Hầu hết cán bộ nữ được đưa vào quy hoạch là những người đã kinh qua thực tiễn phong trào, trình độ chuyên môn và lý luận chính trị đảm bảo yêu cầu, có xu hướng phát triển và độ tuổi được trẻ hoá so với trước.
           Trên cơ sở quy hoạch tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý, lãnh đạo ở các cấp, các ngành ngày càng được tăng lên và được luân chuyển nhiều hơn. Tỷ lệ nữ tham gia HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004-2009 đều tăng so với nhiệm kỳ trước. Cấp tỉnh tăng 4,33%, cấp huyện, thành, thị tăng 5,93% và cấp xã, phường, thị trấn tăng 4,63%. Tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ nhiệm kỳ 2005-2010 cũng tăng so với nhiệm kỳ trước. Tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ huyện, thành, thị tăng 4,62%, cấp xã, phường, thị trấn tăng 2,8%. Riêng tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý các cấp năm 2007 đối với cấp tỉnh tăng 17% so với năm 2005. Số lượng hội viên phụ nữ được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam ngày càng đông, chiếm tỷ lệ cao trong tổng số đảng viên, tuổi đời trẻ hơn so với trước và trình độ được nâng lên rất nhiều. Tính đến tháng 12/2007 tỷ lệ đảng viên nữ chiếm 27% trong tổng số đảng viên toàn tỉnh. Trong giai đoạn từ 2005-2007, đã có 9.843 đảng viên nữ được kết nạp trong tổng số 21.057 đảng viên được kết nạp mới, chiếm 46,7%.
          Tuy nhiên, ở một số cấp, ngành, việc chỉ đạo thực hiện Chỉ thị còn chưa thường xuyên và thiếu đồng bộ nên kết quả chưa cao. Một số chỉ tiêu đề ra chưa đạt yêu cầu. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ đã có những chuyển biến nhất định nhưng vẫn còn hạn chế. Nhiều cấp uỷ chưa quan tâm xây dựng được quy hoạch, đào tạo và luân chuyển cán bộ nữ. Tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực còn thấp chưa tương xứng với lực lượng lao động nữ trong xã hội. Chế độ chính sách cho cán bộ nữ còn bất cập, một bộ phận phụ nữ vùng dân tộc, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi.
          Nguyên nhân của tình trạng trên là do một số cấp uỷ, chính quyền chưa quan tâm đến công tác cán bộ nữ, thiếu kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chỉ thị 31-CT/TU. Nhận thức về bình đẳng giới ở một bộ phận cán bộ và nhân dân còn hạn chế. Các cấp Hội phụ nữ chưa đề xuất nhiều nguồn cán bộ nữ để đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng. Bản thân phụ nữ còn mặc cảm, tự ti, ngại thay đổi môi trường công tác, chưa thực sự tôn vinh nhau và tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển.
          Để làm tốt công tác cán bộ nữ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới của các cấp ủy đảng cần phải làm gì? Khi giảng phần này giảng viên cần gợi ý để mỗi học viên liên hệ vào cơ sở, địa phương mình đánh giá đúng thực trạng, tìm ra những nguyên nhân, đề ra được những giải pháp có tính khả thi cho vấn đề này.
          Hai là: Trong giảng dạy, giảng viên nên lưu ý người học trong việc vận dụng những tri thức về xây dựng Đảng và việc giải quyết những vấn đề cụ thể của thực tiễn nghề nghiệp và thực tiễn xây dựng Đảng ở cơ sở. Chẳng hạn, khi nghiên cứu quy chế về luân chuyển cán bộ, giảng viên cần đưa ra số liệu cụ thể để minh họa cho vấn đề này. Ví dụ: Thực hiện Nghị quyết 11- NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, Nghị quyết 14-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An (khóa XV) về công tác tổ chức và cán bộ, từ 2003 đến 2007, công tác luân chuyển cán bộ của Tỉnh được tiến hành tích cực, đồng bộ. Toàn tỉnh đã luân chuyển 665 cán bộ các cấp, trong đó, luân chuyển 124 cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý, 146 cán bộ thuộc diện các ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh quản lý và 395 cán bộ thuộc diện cấp huyện và tương đương quản lý. Nhìn chung, công tác luân chuyển cán bộ ở Nghệ An đã bám sát quy hoạch và yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh. Việc luân chuyển cán bộ được chỉ đạo chặt chẽ, đúng phương hướng, mục tiêu, có kế hoạch và bước đi cụ thể... Qua thời gian luân chuyển, đa số cán bộ được luân chuyển đều phát huy tốt trách nhiệm, năng lực của mình, góp phần tích cực đổi mới phong cách lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao hiệu quả công tác, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Trong số 124 cán bộ luân chuyển thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý có 71% được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, 28,2 hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, công tác luân chuyển cán bộ ở Nghệ An cũng đang bộc lộ những hạn chế, bất cập:
         Một số cấp ủy, chính quyền và các ban, ngành chưa nhận thức đầy đủ mục đích, ý nghĩa, tác dụng của luân chuyển cán bộ, do đó còn thiếu chủ động xây dựng đề án, kế hoạch luân chuyển cán bộ thuộc diện cấp mình quản lý. Luân chuyển cán bộ giữa các đơn vị trong một ngành, giữa các huyện trong tỉnh, giữa các cơ quan đảng, đoàn thể, chính quyền và từ cấp dưới lên cấp trên chưa nhiều. Theo số liệu thống kê, số cán bộ luân chuyển ngang ở cấp tỉnh là 32, cấp huyện là 186; luân chuyển từ tỉnh xuống huyện 27, từ huyện lên tỉnh 32, từ huyện xuống xã là 123, từ xã lên huyện là 86 người.
         Có những địa phương, đơn vị vẫn còn tâm lý ngại tiếp nhận cán bộ luân chuyển hoặc chưa quan tâm đúng mức giúp đỡ cán bộ luân chuyển, nhất là đối với những cán bộ giữ vị trí cấp phó; giao quá nhiều việc phức tạp, trái với sở trường cán bộ. Vẫn còn một số cán bộ luân chuyển chưa được chuẩn bị tốt tinh thần và các điều kiện, tiêu chuẩn để thực hiện luân chuyển. Có những đồng chí tiếp cận, hòa nhập với thực tiễn địa phương, đơn vị nơi luân chuyển đến còn chậm, chưa yên tâm công tác, coi thời gian thực hiện luân chuyển như đi nghĩa vụ, muốn rút ngắn thời gian luân chuyển ...do vậy đóng góp công sức, trí tuệ cho địa phương, đơn vị nơi công tác còn hạn chế. Thực hiện chính sách hỗ trợ, khuyến khích đối với cán bộ luân chuyển chưa nhất quán, chưa đồng bộ, nhất là chế độ đối với cán bộ luân chuyển về cơ sở (vận dụng khác nhau tùy thuộc khả năng các địa phương, đơn vị). Việc bố trí cán bộ sau luân chuyển gặp nhiều khó khăn, nhiều đồng chí hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tại nơi luân chuyển nhưng chưa được bố trí vào các chức vụ thích hợp hoặc cao hơn sau luân chuyển. Từ thực tế đó, vấn đề đặt ra là vì sao lại có những hạn chế như vậy? Do những nguyên nhân nào và giải pháp sắp tới cho công tác luân chuyển của địa phương, đơn vị mình như thế nào? Trong thực tế những câu hỏi được đặt ra như thế sẽ giúp cho người học hiểu sâu sắc hơn đồng thời có những thu hoạch bổ ích cho bản thân qua khóa học và trong hoạt động thực tiễn. Nói một cách khác, đây là phương pháp tốt có tác động rất lớn đối với người học giúp cho họ chú ý , tập trung tư tưởng hơn và do đó có thể nhớ, vận dụng tốt hơn.
           Ba là: Cần quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tất cả các khâu của quá trình dạy học, đặc biệt trong thảo luận, trong làm bài kiểm tra và nghiên cứu thực tế.v.v...Chẳng hạn, khi thảo luận nội dung : Đồng chí hãy trình bày những giải pháp chủ yếu để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong giai đoạn hiện nay, giảng viên cần cho học viên liên hệ hoạt động thực tiễn của chi bộ, đảng bộ nơi họ công tác. Cụ thể học viên sẽ phân tích làm rõ nội dung của từng giải pháp, đối chiếu nội dung bài giảng để xác định đúng, sai. Thực tế, hiện nay đa số học viên khi trao đổi hoặc khi làm bài kiểm tra, bài thi không muốn có phần liên hệ thực tế. Vì vậy, khi liên hệ họ làm hết sức qua loa, có người không bám sát yêu cầu của câu hỏi để liên hệ, vẫn có những học viên viết lại phần lý luận của câu hỏi yêu cầu, có nhiều bài không có số liệu cụ thể nên hiệu quả còn chưa đạt yêu cầu. Vì vậy, khi chủ trì thảo luận giảng viên cần định hướng cho học viên và nếu có điều kiện thì có thể bố trí, lựa chọn những học viên có trình độ, có khả năng liên hệ phân tích mẫu từ một địa phương, cơ sở nào đó tạo điều kiện cho các học viên khác học tập, vận dụng.
 Bốn là: Việc lấy dẫn chứng minh họa, chứng minh cho lý luận phải được chọn lọc cẩn thận. Phải xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của bài giảng cũng như căn cứ vào yêu cầu đặc điểm của người học. Nói chung, nên chọn những nhận định khái quát qua các Nghị quyết, Văn kiện của Đảng, qua tổng kết thực tiễn của các địa phương, cơ sở.
          Năm là: Phê phán những quan điểm sai trái, hướng dẫn xây dựng quan điểm lành mạnh, đúng đắn trên tất cả các mặt: Nhận thức, hành động, rèn luyện và phong cách công tác.
         Muốn thực hiện được những vấn đề trên, đòi hỏi mỗi giảng viên chúng ta cần tăng cường đi nghiên cứu thực tế ở các địa phương, cơ sở theo yêu cầu của từng bài giảng, từng chuyên đề cụ thể. Có thể tổ chức đi theo tập thể của bộ môn để cùng nhau trao đổi rút kinh nghiệm hoặc từng cá nhân. Nên đi nhiều điểm trong tỉnh (hoặc ngoài tỉnh) để có số liệu so sánh và đúc rút kinh nghiệm đồng thời phải tìm đọc, nghiên cứu, nắm bắt các thông tin mới qua sách báo, tạp chí (nhất là Tạp chí Xây dựng Đảng) và các phương tiện thông tin đại chúng để cập nhật thường xuyên, kịp thời.
         Trên đây là một vài vấn đề mà theo tôi nghĩ trong quá trình giảng dạy môn Xây dựng Đảng ở chương trình Trung cấp chính trị- Hàmh chính chúng ta cần đạt được. Làm như vậy, bài giảng sẽ thêm sinh động hơn. Rất mong những suy nghĩ này sẽ được nhiều đồng nghiệp cùng tham gia trao đổi ./.
Các bài viết khác:
 
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Thư viện trường
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn