Kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930-03/02/2026): Xây dựng tỉnh Nghệ An trở thành cực tăng trưởng tầm quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới
02/02/2026 06:10
Trước yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, gia tăng năng lực cạnh tranh, hội nhập và phát triển bền vững, việc hình thành các cực tăng trưởng có vai trò dẫn dắt đang trở thành xu thế tất yếu. Là tỉnh có quy mô diện tích, dân số lớn, giữ vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, Nghệ An được xác định là một trong những địa bàn chiến lược có khả năng đảm nhận vai trò động lực phát triển mới...
Kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930-03/02/2026): Xây dựng tỉnh Nghệ An trở thành cực tăng trưởng tầm quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới

 

ThS Vương Quang Minh

Tỉnh uỷ viên, Bí thư Đảng uỷ, Hiệu trưởng

Tóm tắt:

Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết 39-NQ/TW) và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XX (Nghị quyết XX), đưa Nghệ An trở thành tỉnh khá, cực tăng trưởng tầm quốc gia. Trên cơ sở lý thuyết cực tăng trưởng, tiềm năng địa kinh tế - chính trị của tỉnh, bài viết chỉ ra các điểm nghẽn, đề xuất các giải pháp đồng bộ về thể chế, nhân lực, hạ tầng và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng đổi mới sáng tạo, kinh tế số và kinh tế xanh để xây dựng Nghệ An trở thành cực tăng trưởng tầm quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.

Từ khoá: Nghệ An; Cực tăng trưởng; Phát triển vùng; Bắc Trung Bộ.

Trước yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, gia tăng năng lực cạnh tranh, hội nhập và phát triển bền vững, việc hình thành các cực tăng trưởng có vai trò dẫn dắt đang trở thành xu thế tất yếu. Là tỉnh có quy mô diện tích, dân số lớn, giữ vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, Nghệ An được xác định là một trong những địa bàn chiến lược có khả năng đảm nhận vai trò động lực phát triển mới. Nghị quyết 39-NQ/TW và Nghị quyết XX đã xác lập rõ mục tiêu xây dựng Nghệ An trở thành cực tăng trưởng tầm quốc gia. Tuy nhiên, quá trình hiện thực hóa mục tiêu này đang đặt ra nhiều yêu cầu mới về tư duy phát triển, chất lượng tăng trưởng, nguồn nhân lực và năng lực quản trị phát triển địa phương. Do vậy, cần tập trung phân tích những vấn đề nêu trên và đề xuất các định hướng, giải pháp trọng tâm.

1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn để Nghệ An trở thành cực tăng trưởng tầm quốc gia

1.1. Cơ sở lý luận, thực tiễn

Theo Lý thuyết cực tăng trưởng, sự phát triển kinh tế không diễn ra đồng đều mà tập trung vào những không gian có khả năng dẫn dắt, lan tỏa và tạo động lực cho các vùng lân cận (Perroux, 1950). Các nghiên cứu gần đây về lý thuyết cực tăng trưởng cũng chỉ ra rằng, một cực tăng trưởng quốc gia phải hội đủ những điều kiện về vị trí địa chiến lược, quy mô dân số, nguồn nhân lực, hệ thống hạ tầng, khả năng thu hút đầu tư và mức độ hội nhập trong mạng lưới phát triển quốc gia, quốc tế. Đồng thời, cực tăng trưởng không chỉ dựa trên lợi thế truyền thống mà còn đòi hỏi năng lực đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và khả năng thích ứng với các xu thế phát triển mới.

Trên phương diện thực tiễn, Nghệ An hội tụ nhiều điều kiện để trở thành cực tăng trưởng. Nghị quyết 39-NQ/TW xác định rõ Nghệ An là trung tâm của vùng Bắc Trung Bộ, giữ vị trí chiến lược về địa chính trị, kinh tế - xã hội; đồng thời đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành tỉnh khá, có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, là trung tâm công nghiệp, dịch vụ, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và y tế chất lượng cao của vùng. Nghị quyết XX tiếp tục khẳng định định hướng này, nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh, bền vững dựa trên đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực phát triển. Cùng với những thành tựu mà Nghệ An đạt được trong nhiệm kỳ 2020 - 2025 về tăng trưởng kinh tế, hạ tầng giao thông, thu hút đầu tư, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đã tạo nền tảng quan trọng, là cơ sở vững chắc để Nghệ An trở thành cực tăng trưởng tầm quốc gia trong bối cảnh phát triển mới.

1.2. Nền tảng phát triển và những điểm nghẽn cần tháo gỡ của Nghệ An hiện nay

Nền tảng để bứt phá

Giai đoạn 2020 - 2025, kinh tế Nghệ An tăng trưởng khá toàn diện. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đạt khoảng 8,3 - 8,5%/năm. Quy mô GRDP và GRDP bình quân đầu người đã tăng gấp 1,67 lần so với năm 2020. Chất lượng tăng trưởng được phản ánh qua đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), đạt khoảng 40% vào tăng trưởng kinh tế, đây là cơ sở khoa học quan trọng để đặt mục tiêu tăng trưởng cao hơn trong giai đoạn 2025 - 2030. Đặc biệt, thu hút đầu tư đạt kết quả vượt bậc, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 500.000 tỷ đồng, gấp hơn 1,7 lần giai đoạn 2015 - 2020. Từ năm 2022 - 2024, Nghệ An liên tục đứng trong nhóm 10 địa phương thu hút FDI lớn nhất cả nước, với tổng vốn đăng ký trên 4,8 tỷ USD, gấp 4,5 lần số vốn lũy kế từ năm 2020 trở về trước [2]. Kết quả này khẳng định rõ vai trò của Nghệ An là cực tăng trưởng kinh tế.

Các điểm nghẽn và hạn chế cần khai thông

Mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể, Nghệ An vẫn đối diện nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. GRDP bình quân đầu người vẫn còn thấp, sự tương phản giữa lượng vốn FDI lớn và GRDP bình quân đầu người thấp cho thấy mô hình sản xuất chủ yếu thâm dụng lao động. Để thực sự trở thành cực tăng trưởng, tỉnh cần chuyển đổi trọng tâm từ "thu hút vốn" sang "tạo giá trị gia tăng", đồng thời khai thông các hạn chế sau đây:

(1) Chất lượng tăng trưởng: tỷ trọng sản phẩm công nghiệp, dịch vụ có giá trị gia tăng cao còn thấp; nông nghiệp công nghệ cao chậm được nhân rộng.

(2) Nút thắt hạ tầng chiến lược: hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông, logistics, hạ tầng số. Việc triển khai một số dự án hạ tầng chiến lược quan trọng như cảng biển nước sâu, cảng hàng không còn chậm so với mục tiêu đề ra.

(3) Nguồn nhân lực và quản trị: chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực trình độ cao, chưa đáp ứng yêu cầu. Các chỉ số phản ánh về cải cách hành chính, môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) thiếu bền vững.

(4) Thách thức giảm nghèo bền vững: kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững; tỷ lệ hộ nghèo còn cao hơn bình quân chung cả nước, đặc biệt là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Để làm rõ yêu cầu bứt phá trong giai đoạn mới, xem bảng so sánh các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cơ bản:

Chỉ tiêu

Kinh tế - xã hội

Đơn vị tính

Kết quả

Giai đoạn 2020-2025

Mục tiêu

Giai đoạn 2025-2030

Tốc độ tăng trưởng GRDP (bình quân)

%/năm

8,3 - 8,5

< 12

GRDP bình quân đầu người

Triệu

VNĐ

75

(gấp 1,67 lần 2020)

165 - 190

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Nghìn tỷ VNĐ

500.000

1.150.000

Đóng góp TFP vào tăng trưởng

%

40

55,0

Năng suất lao động tăng bình quân/năm

 Số lần

8,2

10-11

Nguồn: [2], [3].

2. Định hướng phát triển và kiến tạo động lực tăng trưởng tầm quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới ở Nghệ An

Điểm cốt lõi của định hướng phát triển Nghệ An không chỉ là gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế đơn thuần, mà là chuyển hóa mô hình tăng trưởng theo hướng kiến tạo động lực lan tỏa, dẫn dắt và kết nối phát triển vùng, qua đó tháo gỡ các điểm nghẽn để tham gia sâu hơn vào cấu trúc phát triển của quốc gia.

2.1. Ba đột phá chiến lược - Trụ cột kiến tạo cực tăng trưởng

Ba đột phá chiến lược được xác định là nền tảng quyết định khả năng “bứt phá khỏi quán tính phát triển trung bình” của Nghệ An.

Đột phá về thể chế được xem là “điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn”, để Nghệ An chuyển trọng tâm từ mô hình “quản lý hành chính” sang “quản trị phát triển”, coi năng lực tổ chức thực hiện là thước đo cốt lõi của cải cách. Từ đó tạo thuận lợi cho đầu tư phát triển dài hạn dựa trên sự ổn định và minh bạch của chính sách. Việc đặt mục tiêu nhóm 10 địa phương dẫn đầu về PCI, PAR INDEX và nhóm 15 về PAPI không đơn thuần là mục tiêu kỹ thuật, mà phản ánh yêu cầu nâng cấp thực chất năng lực quản trị địa phương. Đây là điều kiện tiên quyết để Nghệ An có thể đóng vai trò cực tăng trưởng.

Đột phá về nguồn nhân lực là trụ cột thứ hai, mang tính quyết định đối với chất lượng tăng trưởng. Thách thức lớn nhất của Nghệ An không nằm ở quy mô lao động, mà ở chất lượng lao động và khả năng thích ứng với mô hình kinh tế mới. Ở chiều sâu, chiến lược nhân lực của Nghệ An hướng tới giải quyết nghịch lý phổ biến: dư thừa lao động phổ thông nhưng thiếu lao động chất lượng cao. Cơ chế thu hút chuyên gia, nhà khoa học, chính sách đãi ngộ và việc xây dựng đội ngũ cán bộ “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” không chỉ là yêu cầu về nhân sự, mà là đòi hỏi về “văn hóa phát triển”. Đây là yếu tố mang tính quyết định trong mô hình cực tăng trưởng.

Đột phá về kết cấu hạ tầng là trụ cột thứ ba, nhưng không đơn thuần là bài toán đầu tư công trình, mà là chiến lược tái cấu trúc không gian phát triển. Các dự án như cao tốc Vinh -Thanh Thủy, sân bay Vinh, cảng nước sâu Cửa Lò và cụm cảng Đông Hồi, không chỉ có ý nghĩa giao thông mà tạo ra “hành lang phát triển mới”, thúc đẩy dịch chuyển dòng vốn, lao động và công nghệ. Cùng với hạ tầng vật chất, hạ tầng số và hạ tầng khoa học - công nghệ được xác định là “hạ tầng mềm” đóng vai trò quyết định trong năng lực cạnh tranh của một cực tăng trưởng hiện đại.

2.2. Cơ cấu lại nền kinh tế theo định hướng ba trụ cột giá trị cao

Nếu ba đột phá chiến lược tạo nền móng, thì cơ cấu lại nền kinh tế chính là nội dung vận hành của cực tăng trưởng.

Trong lĩnh vực công nghiệp, vấn đề cốt lõi không còn là mở rộng quy mô sản xuất, gia công, lắp ráp, mà là nâng cao vị trí của Nghệ An trong chuỗi giá trị. Do đó,  cần tập trung vào nhóm ngành nền tảng: năng lượng tái tạo, cơ khí chính xác, chế tạo thiết bị, sản xuất máy móc, nhằm hình thành năng lực công nghiệp nội sinh, gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ để tháo gỡ điểm nghẽn chiến lược trong liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong tỉnh, tạo ra hiệu ứng lan tỏa phát triển.

Ở lĩnh vực dịch vụ, cần chuyển từ “dịch vụ phục vụ sản xuất” sang “dịch vụ dẫn dắt sản xuất”. Khi logistics, tài chính, giáo dục, y tế phát triển ở trình độ cao gắn với du lịch, không gian văn hóa xứ Nghệ không chỉ tạo ra năng lực thu hút dòng vốn, nâng cao vị thế cạnh tranh mà còn trở thành trung tâm điều phối nguồn lực.

Đối với nông nghiệp và kinh tế biển, yêu cầu cốt lõi là chuyển mạnh từ mô hình phát triển dựa trên gia tăng sản lượng sang dựa trên giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Việc thúc đẩy nông nghiệp tuần hoàn, phát triển lâm nghiệp bền vững gắn với cơ chế thị trường tín chỉ carbon và kinh tế rừng, Nghệ An sẽ bảo đảm sinh kế ổn định cho đồng bào vùng miền núi, tham gia thực chất vào các cam kết về giảm phát thải khí nhà kính, tránh được mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, tiềm ẩn nhiều rủi ro về môi trường và suy giảm tài nguyên.

2.3. Vận hành cực tăng trưởng dựa trên chính quyền số, văn hóa, an ninh

Một cực tăng trưởng hiện đại không thể vận hành hiệu quả nếu thiếu nền tảng quản trị hiện đại, môi trường văn hóa lành mạnh và nền an ninh vững chắc.

Chuyển đổi số được xác định là hệ điều hành của toàn bộ chiến lược phát triển. Vấn đề cốt lõi không phải là ứng dụng công nghệ rời rạc, mà là xây dựng chính quyền số dựa trên dữ liệu. Việc giám sát qua dữ liệu, kiểm tra qua dữ liệu không chỉ nâng cao tính minh bạch, mà tạo ra một phương thức kiểm soát quyền lực hiện đại, là điều kiện bắt buộc để bảo đảm tính liêm chính của bộ máy công quyền.

Văn hóa và con người Nghệ An được xác định là sức mạnh nội sinh, đóng vai trò chất keo kết nối trong phát triển. Không gian văn hóa Hồ Chí Minh, truyền thống văn hóa cách mạng, là nền tảng để xây dựng bản lĩnh, khát vọng vươn lên và tinh thần sáng tạo của con người xứ Nghệ. Đây chính là yếu tố mềm nhưng có sức chi phối lâu dài đối với sự bền vững của cực tăng trưởng.

Về quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế, nội dung cốt lõi là tạo lập môi trường ổn định, an toàn để các dòng vốn, công nghệ và nhân lực chất lượng cao yên tâm gắn bó lâu dài. Quan hệ hợp tác với các đối tác của Nghệ An không chỉ mang ý nghĩa chính trị, ngoại giao, mà trực tiếp mở rộng không gian cực tăng trưởng của tỉnh theo hướng xuyên quốc gia.

3. Giải pháp chiến lược hiện thực hóa mục tiêu Nghệ An trở thành cực tăng trưởng tầm quốc gia

Việc hiện thực hóa mục tiêu đưa Nghệ An trở thành cực tăng trưởng tầm quốc gia đòi hỏi một hệ thống giải pháp tổng thể, đồng bộ, có trọng tâm và khả thi cao.

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh đổi mới thể chế theo hướng kiến tạo phát triển và nâng cao chất lượng quản trị địa phương. Chuyển mạnh sang tư duy coi hiệu quả phát triển là tiêu chí trung tâm trong đánh giá năng lực điều hành của chính quyền. Trọng tâm là hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực, bảo đảm tính minh bạch, ổn định và khả năng dự báo của môi trường đầu tư. Đồng thời, lấy cải thiện thực chất các chỉ số PCI, PAR INDEX, PAPI làm thước đo kết quả cải cách hành chính.

Thứ hai, tái cấu trúc chiến lược thu hút và sử dụng nguồn lực theo hướng nâng cao giá trị gia tăng nội địa. Tập trung thu hút các dự án công nghệ cao, thân thiện môi trường, có cam kết liên kết với doanh nghiệp trong nước. Hình thành các cụm liên kết ngành và trung tâm đổi mới sáng tạo tại Khu Kinh tế Đông Nam, gắn kết chặt chẽ khu vực FDI với khu vực kinh tế trong tỉnh, qua đó, nâng cao khả năng thích ứng và khai thác công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực trở thành khâu đột phá thực chất trong chiến lược tăng trưởng. Triển khai mô hình đào tạo giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, bảo đảm tính gắn kết giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động. Việc xây dựng Đại học Vinh trở thành đại học vùng cần được coi là trọng tâm chiến lược, đồng thời ban hành cơ chế thu hút nhân tài theo hướng linh hoạt, cạnh tranh, tạo môi trường nghiên cứu và đổi mới sáng tạo hấp dẫn.

Thứ tư, phát triển kết cấu hạ tầng theo tư duy tích hợp, đồng bộ và có tính dẫn dắt. Trọng tâm là đẩy nhanh tiến độ các dự án giao thông chiến lược, hình thành các hành lang kinh tế động lực và trung tâm logistics vùng. Ưu tiên đầu tư hạ tầng số, dữ liệu lớn và các nền tảng số dùng chung, coi dữ liệu là tài nguyên phát triển mới, phục vụ điều hành thông minh và quy hoạch linh hoạt, thích ứng.

Thứ năm, bảo đảm phát triển bao trùm gắn với thu hẹp chênh lệch vùng, miền. Thiết kế các cơ chế điều tiết nguồn lực dựa trên hiệu quả, hướng nguồn lực đến khu vực miền núi, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn thông qua các mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế rừng và thị trường tín chỉ carbon. Qua đó, chuyển chính sách giảm nghèo từ hỗ trợ thụ động sang tạo sinh kế bền vững, nâng cao năng lực tự phát triển của cộng đồng.

Thứ sáu, tăng cường năng lực dự báo, quản trị rủi ro và bảo đảm ổn định vĩ mô cấp tỉnh. Việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm về rủi ro kinh tế, tài chính, môi trường và xã hội là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh biến động toàn cầu. Cần lồng ghép chặt chẽ mục tiêu tăng trưởng kinh tế với yêu cầu bảo vệ môi trường, quốc phòng - an ninh và củng cố “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng ổn định lâu dài cho cực tăng trưởng phát triển bền vững.

Trong tiến trình hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nghệ An trở thành cực tăng trưởng tầm quốc gia, Trường Chính trị tỉnh giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở. Yêu cầu đặt ra đối với nhà trường không chỉ dừng lại ở đổi mới phương pháp giảng dạy, mà quan trọng hơn là tiếp tục hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn phát triển của địa phương. Việc bổ sung các chuyên đề về phát triển vùng, kinh tế số, quản trị công, cải cách hành chính và quản trị rủi ro phát triển có ý nghĩa trực tiếp trong việc hình thành tư duy chiến lược, năng lực tổ chức thực hiện và bản lĩnh đổi mới của đội ngũ cán bộ. Thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và tham mưu chính sách, Trường Chính trị góp phần cung cấp cơ sở luận cứ khoa học tin cậy cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh trong hoạch định đường lối, chủ trương phát triển. Đây chính là cơ sở để khẳng định vai trò trực tiếp và thiết thực của Trường Chính trị tỉnh Nghệ An trong quá trình xây dựng Nghệ An trở thành cực tăng trưởng tầm quốc gia.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 18/7/2023 về xây dựng và phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 20230, tầm nhìn 2045.

2. Tỉnh uỷ Nghệ An (2020), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020-2025.

3. Tỉnh uỷ Nghệ An (2025), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025-2030.

4. Perroux, F. (1950). Economic Space: Theory and Applications (Không gian kinh tế: Lý thuyết và ứng dụng) Quarterly Journal of Economics, 64(1), 89–104.